Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Đại học Quốc gia Saint Petersburg”

Từ Wiki Du học Nga
Dòng 99: Dòng 99:


== Uy tín và Xếp hạng ==
== Uy tín và Xếp hạng ==
{| class="wikitable" style="text-align:center;"
===Academic Ranking of World Universities (ARWU)===
! style="text-align: left;" | Xếp hạng thế giới !! 2015 !! 2020 !! 2025
Kể từ năm 2012, Đại học Quốc gia Saint Petersburg đã được đưa vào ARWU hàng năm về các trường đại học tốt nhất thế giới về toán học <ref>[https://web.archive.org/web/20181225194329/http://www.shanghairanking.com/SubjectMathematics2012.html: Academic Ranking of World Universities in Mathematics - 2012 | 2012 Top 100 Universities in Mathematics | ARWU-SUBJECT 2012]</ref>. Năm 2021, trường vẫn giữ vững vị thế của mình, lọt vào nhóm 301–400 trên toàn thế giới <ref>[https://web.archive.org/web/20190815195442/http://www.shanghairanking.com/ARWU2020.html: Academic Ranking of World Universities 2020]</ref>.
|-
=== Financial Times ===
| style="text-align: left;" | '''''ShanghaiRanking’s ARWU''''' || 86 || 93 ||
Năm 2018, Trường Quản lý Sau đại học thuộc Đại học Quốc gia Saint Petersburg đã lọt vào bảng xếp hạng các trường kinh doanh hàng đầu châu Âu và đạt vị trí thứ 52 trong Bảng xếp hạng các trường kinh doanh châu Âu của Financial Times.
|-
| style="text-align: left;" | '''''QS World University Rankings''''' || 114 || 84 ||
|-
| style="text-align: left;" | '''''«Три миссии университета»''''' || – || 21 ||
|-
! style="text-align: left;" | Xếp hạng khu vực !! 2015 !! 2020 !! 2025
|-
| style="text-align: left;" | '''''QS University Rankings: BRICS''''' || 3 || 6 ||
|-
| style="text-align: left;" | '''''QS Emerging Europe & Central Asia''''' || – || 1 ||
|-
! style="text-align: left;" | Xếp hạng trong nước !! 2015 !! 2020 !! 2025
|-
| style="text-align: left;" | '''''Interfax (Интерфакс)''''' || 1 || 1 ||
|-
| style="text-align: left;" | '''''RAEX''''' || – || 1 ||
|}
Năm 2018, Đại học Quốc gia Moscow xếp thứ 199 trong Times Higher Education World University Rankings và thứ 33 trong bảng xếp hạng danh tiếng <ref>[https://www.timeshighereducation.com/world-university-rankings/2018/reputation-ranking#!/page/0/length/25/locations/RU/sort_by/rank/sort_order/asc/cols/stats: World Reputation Rankings] ''Times Higher Education (THE)'' 30 мая 2018.</ref> <ref>[https://www.timeshighereducation.com/world-university-rankings/2019/world-ranking#!/page/0/length/25/locations/RU/sort_by/rank/sort_order/asc/cols/stats: World University Rankings] ''Times Higher Education (THE)'' 26 сентября 2018.</ref>


Năm 2019, Đại học Quốc gia Moscow đã lọt vào TOP-50 QS World University Rankings by Subject ở năm chuyên ngành cùng một lúc: Ngôn ngữ học (vị trí thứ 21), Vật và Thiên văn học (vị trí thứ 26), Ngôn ngữ đương đại (vị trí thứ 33), Toán học (vị trí thứ 34) Khoa học máy tính (vị trí thứ 48) <ref>[https://www.topuniversities.com/university-rankings-articles/university-subject-rankings/out-now-qs-world-university-rankings-subject-2019: Out Now: QS World University Rankings by Subject 2019] Top Universities (26 февраля 2019)</ref>.
Năm 2021, chương trình Thạc sĩ của Trường Quản Sau đại học đạt vị trí thứ 25 trong số 100 chương trình Thạc sĩ tốt nhất thế giới vẫn là đại diện duy nhất của Nga trong bảng xếp hạng này <ref>[https://spbu.ru/news-events/novosti/spbgu-snova-pokazal-vysokiy-rezultat-v-shanhayskom-reytinge-luchshih: Business school rankings from the Financial Times]</ref>.


Năm 2022, Đại học Tổng hợp Moscow đứng thứ 5 trong bảng xếp hạng các trường đại học tốt nhất của Nga về nhu cầu của sinh viên theo HeadHunter <ref>''Билык, Кирилл.'' [https://rb.ru/news/top-russian-university/: HeadHunter составил рейтинг лучших российских вузов 2022 года]</ref>.
Trong tám năm qua, chương trình đã tăng 40 bậc trong bảng xếp hạng nhờ vào nội dung giáo dục độc đáo và sự hỗ trợ của các sinh viên tốt nghiệp và đối tác doanh nghiệp.
 
=== QS ===
Đại học Quốc gia Saint Petersburg nằm trong '''top 1% các trường đại học trên thế giới''' <ref>[http://spbu.ru/press-center/press-relizy/spbgu-vnov-uluchshil-pozicii-v-reytinge-vedushchih-vuzov-mira-po-versii-qs: СПбГУ вновь улучшил позиции в рейтинге ведущих вузов мира по версии QS]</ref>. Năm 2018, Đại học Tổng hợp St. Petersburg đạt vị trí thứ 235, tăng 5 bậc so với năm 2017 <ref>[https://www.topuniversities.com/university-rankings/world-university-rankings/2019: QS World University Rankings 2019]</ref>.
 
Năm 2021, Đại học Quốc gia Saint Petersburg lọt vào top 100 trường đại học hàng đầu thế giới về các lĩnh vực toán học, triết học, quan hệ quốc tế và kỹ thuật dầu khí <ref>[https://www.topuniversities.com/subject-rankings/2021: Subject Rankings 2021]</ref>. Ngoài ra, trường đã cải thiện đáng kể thành tích của mình trong nhiều lĩnh vực chuyên môn rộng.
 
Ngoài ra, Đại học Quốc gia Saint Petersburg đã lọt vào '''top 100 trường đại học thành công nhất thế giới theo tiêu chí Kết nối Nhà tuyển dụng - Sinh viên'''. Tương tác với nhà tuyển dụng đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của trường Đại học và sinh viên. Ngày nay, danh sách các đối tác của trường bao gồm hơn 2.000 công ty thương mại, tổ chức khoa học và giáo dục từ nhiều lĩnh vực khác nhau, cũng như các cơ quan chính phủ <ref>[https://spbu.ru/news-events/novosti/qs-graduate-employability-rankings-spbgu-vhodit-v-top-100-vuzov-po-uspeshnosti: QS Graduate Employability Rankings: СПбГУ входит в топ-100 вузов по успешности выпускников]</ref>.
 
=== The Economist ===
'''Chương trình Thạc sĩ Quản lý''' tại Đại học Quốc gia Saint Petersburg được xếp hạng là chương trình tốt nhất trong lĩnh vực quản lý theo tạp chí The Economist. Khoa Quản lý sau đại học của Đại học Tổng hợp St. Petersburg  là đại diện duy nhất của Nga trong bảng xếp hạng năm 2017. Ra mắt lần đầu tiên tại chương trình Which MBA? danh sách các chương trình thạc sĩ quản lý hàng đầu, Theo tạp chí The Economist, chương trình Thạc sĩ Quản lý (MiM) tại GSOM SPbU đứng thứ 37 <ref>[http://www.economist.com/whichmba/MiM/2017/Ranking: Masters in Management 2017 Ranking]</ref>. Năm 2019, chương trình Thạc sĩ Quản lý của Đại học St. Petersburg đã được đưa vào bảng xếp hạng của The Economist và trở thành đơn vị duy nhất của Nga tham gia Bảng xếp hạng Thạc sĩ Quản lý của ấn phẩm Anh <ref>[https://spbu.ru/news-events/novosti/programma-spbgu-master-management-voshla-v-reyting-izdaniya-economist: Программа СПбГУ Master in Management вошла в рейтинг издания The Economist]</ref>.
 
=== Times Higher Education (THE) ===
Năm 2016, trong bảng xếp hạng các trường đại học có uy tín nhất thế giới, '''World Reputation Rankings''', Đại học Quốc gia Saint Petersburg đã đạt vị trí thứ 81 - 90 <ref>[http://spbu.ru/press-center/press-relizy/spbgu-snova-v-top-100-universitetov-mira-s-nailuchshey-akademicheskoy: СПбГУ — снова в топ–100 университетов мира с наилучшей академической репутацией]</ref>. Cũng trong năm 2016, trường được đưa vào danh sách các trường đại học tốt nhất thế giới có sinh viên tốt nghiệp được chuẩn bị tốt nhất cho công việc chuyên môn - '''Bảng xếp hạng Đại học về khả năng tuyển dụng toàn cầu''' <ref>[http://spbu.ru/press-center/press-relizy/spbgu-vnov-voshel-v-spisok-luchshih-universitetov-mira-vypuskniki-kotoryh: СПбГУ вновь вошёл в список лучших университетов мира, выпускники которых наиболее готовы к профессиональной деятельности - Санкт-Петербургский государственный университет]</ref>.
 
Năm 2017, Đại học Quốc gia Saint Petersburg đã lọt vào bảng xếp hạng các ngành khoa học xã hội và nhân văn, cũng như kinh doanh và kinh tế <ref>[https://www.timeshighereducation.com/world-university-rankings/2018/subject-ranking/business-and-economics#!/page/0/length/25/sort_by/rank/sort_order/asc/cols/stats: World University Rankings 2018 by subject: business and economics]</ref> <ref>[https://www.timeshighereducation.com/world-university-rankings/2018/subject-ranking/social-sciences#!/page/0/length/25/sort_by/rank/sort_order/asc/cols/scores: World University Rankings 2018 by subject: social sciences]</ref>.
 
Năm 2018, Đại học Quốc gia Saint Petersburg xếp thứ 34 trong bảng xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học có tỷ lệ sinh viên trên giảng viên thấp nhất.
 
Năm 2021, Đại học Quốc gia Saint Petersburg vẫn giữ vững vị trí của mình trong bảng xếp hạng tổng và cũng cho thấy sự tăng trưởng ở ba nhóm chỉ số trong số năm nhóm <ref>[https://www.timeshighereducation.com/world-university-rankings/2022/world-ranking: World University Rankings]</ref>. Những thay đổi tích cực ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu, nguồn tài trợ từ ngành công nghiệp và mức độ quốc tế hóa của trường đại học. Nhà trường đạt kết quả cao nhất cho tiêu chí “Hoạt động giảng dạy” – 43,7 điểm. Theo nhóm chỉ số này, trường xếp hạng 164 trên thế giới và nằm trong top 10% các trường đại học <ref>[https://spbu.ru/news-events/novosti/spbgu-sohranil-svoi-pozicii-v-reytinge-times-higher-education: СПбГУ сохранил свои позиции в рейтинге Times Higher Education]</ref>.
 
=== Webometrics ===
Tính đến đầu năm 2017, Đại học Quốc gia Saint Petersburg xếp hạng 1242 trên thế giới trong bảng xếp hạng Webometrics về mức độ cởi mở của trường đại học. Đến mùa hè năm 2018, trường đã tăng hơn một nghìn bậc, lên vị trí thứ 198 trong Bảng xếp hạng quốc tế các trường đại học hàng đầu theo trích dẫn của Google Scholar <ref>[http://webometrics.info/en/node/169: TRANSPARENT RANKING: Top Universities by Google Scholar Citations]</ref>.
 
Đại học Quốc gia Saint Petersburg đã cải thiện đáng kể vị trí của mình trong bảng xếp hạng Webometrics quốc tế dựa trên kết quả năm 2020. Trong sáu tháng, trường đã tăng 58 bậc trong danh sách <ref>[https://www.webometrics.info/en/WORLD: World | Ranking Web of Universities: Webometrics ranks 30000 institutions]</ref>, đã chứng minh được sự tăng trưởng đáng kể nhất trong tiêu chí “Kết nối”, tăng 207 bậc trong chỉ số này trong sáu tháng. Theo tiêu chí “Hiển thị”, mức tăng là 49 điểm <ref>[https://spbu.ru/news-events/novosti/spbgu-uluchshil-pozicii-v-mezhdunarodnom-reytinge-webometrics: СПбГУ улучшил позиции в международном рейтинге Webometrics]</ref>.
 
=== RAEX ===
Học viện Gymnasium của Đại học Quốc gia Saint Petersburg được xếp hạng trong top 30 trường tốt nhất tại Nga theo xếp hạng RAEX <ref>[https://web.archive.org/web/20180706161924/https://raexpert.ru/rankings/school/2018: Рейтинг школ 2018]</ref>.
 
=== Nature Index Rising Stars ===
Đại học Quốc gia Saint Petersburg là đại diện duy nhất của Nga trong bảng xếp hạng Rising Stars của Nature Index. Đại học được xếp hạng là một trong '''100 tổ chức nghiên cứu năng động nhất thế giới''' <ref>[http://spbu.ru/press-center/press-relizy/spbgu-sredi-100-samyh-aktivno-razvivayushchihsya-nauchno-issledovatelskih: СПбГУ — среди 100 самых активно развивающихся научно-исследовательских организаций мира, по версии Nature]</ref>.
 
=== The Center for World University Rankings (CWUR) ===
Trong bảng xếp hạng CWUR do Trung tâm xếp hạng đại học thế giới có trụ sở chính tại Ả Rập Xê Út biên soạn, trong tổng số hơn 27.000 trường đại học trên toàn thế giới, Đại học Quốc gia Saint Petersburg xếp thứ '''81 thế giới về chất lượng giáo dục''' <ref>[http://cwur.org/2018-19.php: CWUR 2018-2019]</ref>.


== Hoạt động giáo dục ==
== Hoạt động giáo dục ==

Phiên bản lúc 10:58, ngày 22 tháng 4 năm 2025

ĐẠI HỌC QUỐC GIA SAINT PETERSBURG
Санкт-Петербургский государственный университет
СПбГУ
Tên quốc tế St Petersburg University
Saint Petersburg State University
Tên viết tắt СПбГУ, SPbU, SPbSU, SPbGU
Tên cũ Đại học Quốc gia Leningrad
Tiêu ngữ Здесь в безопасности пребывает
Hic tuta perennat
Nơi tri thức trường tồn
Thành lập 28 Tháng Một (8 Tháng Hai), 1724
Địa chỉ 199034, Санкт-Петербург, Университетская набережная, д. 7–9
Website spbu.ru
Sinh viên 28.000
Sv đại học
Sv quốc tế
Thành tích
Huân chương Lenin (Liên Xô)
Huân chương Cờ đỏ Lao động (Liên Xô)
Huân chương Sao Bắc cực (Mông Cổ)
Huân chương Hữu nghị (Việt Nam)
[1]

Đại học Quốc gia Saint Petersburg (tiếng Nga: Санкт-Петербургский государственный университет) là một trong những trường đại học lâu đời nhất ở Nga, một trong những trường đại học cổ điển lâu đời và quy mô nhất.

Đại học Quốc gia Saint Petersburg có lịch sử lâu đời và cho đến ngày nay vẫn giữ được vị thế là một trong những trường đại học hàng đầu cả nước [2]. Hiện nay, Đại học Quốc gia Saint Petersburg có hơn 12 nghìn giảng viên và hơn 28 nghìn sinh viên. Tòa nhà chính của trường đại học, tòa nhà Mười hai Trường đại học (tiếng Nga: здание Двенадцати коллегий) [3], nằm trên phố Bờ kè Đại học (tiếng Nga: Университетской набережной).

Lịch sử

Tranh luận về ngày nào được coi là thời điểm thành lập trường Đại học vẫn còn chưa ngã ngũ.

Theo một luồng ý kiến, ban đầu chỉ được các nhà sử học Leningrad ủng hộ [4] [5], Đại học Quốc gia Saint Petersburg hiện đại là trường kế thừa của Đại học Hàn lâm Khoa học Saint Petersburg, được thành lập đồng thời với Viện Hàn lâm Khoa học theo sắc lệnh của Peter I vào ngày 28 tháng 1 ( 8 tháng 2 ) , 1724 [6] (cụ thể, trong giai đoạn 1758-1765, hiệu trưởng của trường chính là Mikhail Vasilyevich Lomonosov). Hiện nay, phiên bản này đã được Nhà trường và giới chính trị chính thức chấp nhận [7] [8] [9]. Theo đó, lễ kỷ niệm 300 năm thành lập trường được chính thức tổ chức vào năm 2024 [10].

Theo một phiên bản khác, được ủng hộ trong cả thời kỳ tiền cách mạng [11] [12] và trong giới sử học sau này [13], Đại học Quốc gia Saint Petersburg hiện đại là trường kế thừa của Đại học Hoàng gia Saint Petersburg , được thành lập năm 1819 sau khi Viện Sư phạm Chính được đổi tên và tái tổ chức. Viện này bắt nguồn từ Chủng viện Sư phạm, được thành lập từ năm 1786. Trong trường hợp này, ngày thành lập chính thức nên được tính là ngày 8 (20) tháng 2 năm 1819 — ngày được ghi trong bản báo cáo của Bộ trưởng Bộ Tôn giáo và Giáo dục Nhân dân, đưa ra bởi Hoàng thân Alexander Nikolaevich Golitsyn, với tiêu đề “Về việc thành lập một trường đại học ở Saint Petersburg”. Báo cáo này cũng bao gồm đề án “Nền tảng giáo dục ban đầu của Đại học Saint Petersburg”, do Bá tước Sergei Semyonovich Uvarov — cố vấn hoàng gia và là ủy viên phụ trách giáo dục Saint Petersburg thời đó — biên soạn [14].

Tên chính thức

Lúc đầu, Đại học Quốc gia Saint Petersburg hoạt động theo Điều lệ của Viện Sư phạm Chính, cho đến ngày 4 (16) tháng 1 , 1824 , Điều lệ mới được sửa đổi theo hoàn cảnh và có hiệu lực [15]. Ngày 31 tháng 10 (12 tháng 11) năm 1821, Đại học Saint Petersburg được trao tặng danh hiệu Hoàng gia [16]. Dưới đây là danh sách các tên gọi chính thức của nhà trường:

  • 1819 — Đại học Saint Petersburg
  • 1821 — Đại học Hoàng gia Saint Petersburg
  • 1914 — Đại học Hoàng gia Petrograd
  • 1917 — Đại học Petrograd
  • 1918 — Đại học Petrograd Đầu tiên
  • 1919 — Đại học Petrograd
  • 1921 — Đại học Quốc gia Petrograd
  • 1924 — Đại học Quốc gia Leningrad
  • 1933 — Đại học Quốc gia Leningrad mang tên Bubnov
  • 1937 — Đại học Quốc gia Leningrad
  • 1944 — Đại học Quốc gia Lenin với Huân chương Leningrad
  • 1948 — Đại học Quốc gia Lenin mang tên Zhdanov với Huân chương Leningrad
  • 1969 — Đại học Quốc gia Leningrad mang mang tên Zhdanov với Huân chương Lenin và Huân chương Lao động Cờ đỏ
  • 1989 — Đại học Quốc gia Leningrad với Huân chương Lenin và Huân chương Lao động Cờ đỏ
  • 1991 — Đại học Quốc gia Saint Petersburg [17] [18]

Đại học ngày nay

Ngày 11 tháng 11 năm 2009, Tổng thống Nga Dmitry Medvedev đã ký luật điều chỉnh hoạt động của hai trường đại học hàng đầu của Liên bang NgaĐại học Quốc gia Moscow và Đại học Quốc gia Saint Petersburg [19]. Hai trường được trao tặng địa vị đặc biệt là “các tổ hợp khoa học và giáo dục độc đáo, là những trường đại học lâu đời nhất trong cả nước, có tầm quan trọng to lớn đối với sự phát triển của xã hội Nga”. Theo luật [20], Đại học Quốc gia Saint Petersburg được quyền cấp bằng tốt nghiệp cho sinh viên theo mẫu riêng của trường với con dấu chính thức của trường [21]. Ngoài ra, cả hai trường đều được trao quyền có tiêu chuẩn giáo dục riêng. Và Đại học Quốc gia Saint Petersburg là trường đầu tiên ở Nga hiện đại xây dựng, phê duyệt và triển khai các tiêu chuẩn giáo dục riêng vào quá trình giáo dục thay vì Tiêu chuẩn Giáo dục Nhà nước Liên bang. Tiêu chuẩn giáo dục của trường đại học được công bố trên trang web của trường [22].

Theo luật định, việc bầu hiệu trưởng đã bị bãi bỏ. Nhiệm kỳ của người đứng đầu trường đại học do Tổng thống Nga bổ nhiệm được giới hạn trong 6 năm. Đồng thời, Chủ tịch Hội đồng Nhà trường có thẩm quyền tái bổ nhiệm hiệu trưởng cho một nhiệm kỳ mới hoặc bãi nhiệm hiệu trưởng trước thời hạn. Tổng thống Liên bang Nga cũng có thể gia hạn quyền hạn của hiệu trưởng thêm hai lần cho một nhiệm kỳ mới khi đạt đến độ tuổi quy định cho chức vụ này do những người đứng đầu Hội đồng Nhà trường quy định. Hiến chương của Đại học Quốc gia Saint Petersburg được Chính phủ phê duyệt. Hiến chương mới của Đại học Quốc gia Saint Petersburg, trong đó thể hiện các điều khoản của luật về quy chế đặc biệt của trường, đã được Chính phủ Nga phê duyệt vào ngày 31 tháng 12 năm 2010. Theo Hiến chương, hiệu trưởng được trao quyền rộng rãi trong việc đưa ra quyết định về việc thành lập (tổ chức lại, bãi bỏ) các đơn vị cấu trúc của Đại học Quốc gia Saint Petersburg (khoa, phòng ban) và phê duyệt người đứng đầu các đơn vị này.

Việc xây dựng một cơ sở mới của Đại học Quốc gia Saint Petersburg ở Pushkin đang được lên kế hoạch [23].

Kỷ niệm 300 năm thành lập

Năm 2024, trường kỷ niệm 300 năm thành lập.

Vào năm kỷ niệm, Ngân hàng Trung ương Liên bang Nga đã phát hành đồng xu bạc mệnh giá 3 rúp dành riêng cho sự kiện “Kỷ niệm 300 năm thành lập Đại học Quốc gia Saint Petersburg” [24].

Một tên lửa được trang trí bằng biểu tượng kỷ niệm 300 năm thành lập Đại học Quốc gia Saint Petersburg đã được phóng tại Sân bay vũ trụ Baikonur [25].

Để kỷ niệm 300 năm thành lập Đại học Quốc gia Saint Petersburg, lá cờ của trường đã xuất hiện trên Trạm vũ trụ quốc tế ISS [26]. Lá cờ này đã đến ISS cùng với các thành viên phi hành đoàn của tàu vũ trụ có người lái Soyuz MS 25 và được các phi hành gia ký tên trong điều kiện không trọng lực. Lá cờ đã thực hiện một hành trình dài từ trụ sở Roscosmos đến quỹ đạo gần Trái Đất và dừng chân trên Trạm vũ trụ quốc tế ở độ cao hơn 400 km.

Để vinh danh kỷ niệm 300 năm thành lập trường, đài phun nước Peter Đại đế đã được khánh thành tại Đại học Quốc gia Saint Petersburg [27]. Bạn có thể đến thăm nơi này từ phố Bờ kè Đại học, gần nhà số 13. Đài phun nước được tạo thành theo hình dạng các bậc thang tượng trưng. Mỗi yếu tố đại diện cho các thành phần quan trọng đối với trường Đại học:

  • Khoa học là động lực của sự tiến bộ và phát triển,
  • Giáo dục nuôi dưỡng cá nhân,
  • Nghệ thuật hình thành nên nền văn hóa tinh thần cao cả của mỗi cá nhân,
  • Truyền thống đảm bảo sự kết nối của thời đại.

Uy tín và Xếp hạng

Academic Ranking of World Universities (ARWU)

Kể từ năm 2012, Đại học Quốc gia Saint Petersburg đã được đưa vào ARWU hàng năm về các trường đại học tốt nhất thế giới về toán học [28]. Năm 2021, trường vẫn giữ vững vị thế của mình, lọt vào nhóm 301–400 trên toàn thế giới [29].

Financial Times

Năm 2018, Trường Quản lý Sau đại học thuộc Đại học Quốc gia Saint Petersburg đã lọt vào bảng xếp hạng các trường kinh doanh hàng đầu châu Âu và đạt vị trí thứ 52 trong Bảng xếp hạng các trường kinh doanh châu Âu của Financial Times.

Năm 2021, chương trình Thạc sĩ của Trường Quản lý Sau đại học đạt vị trí thứ 25 trong số 100 chương trình Thạc sĩ tốt nhất thế giới và vẫn là đại diện duy nhất của Nga trong bảng xếp hạng này [30].

Trong tám năm qua, chương trình đã tăng 40 bậc trong bảng xếp hạng nhờ vào nội dung giáo dục độc đáo và sự hỗ trợ của các sinh viên tốt nghiệp và đối tác doanh nghiệp.

QS

Đại học Quốc gia Saint Petersburg nằm trong top 1% các trường đại học trên thế giới [31]. Năm 2018, Đại học Tổng hợp St. Petersburg đạt vị trí thứ 235, tăng 5 bậc so với năm 2017 [32].

Năm 2021, Đại học Quốc gia Saint Petersburg lọt vào top 100 trường đại học hàng đầu thế giới về các lĩnh vực toán học, triết học, quan hệ quốc tế và kỹ thuật dầu khí [33]. Ngoài ra, trường đã cải thiện đáng kể thành tích của mình trong nhiều lĩnh vực chuyên môn rộng.

Ngoài ra, Đại học Quốc gia Saint Petersburg đã lọt vào top 100 trường đại học thành công nhất thế giới theo tiêu chí Kết nối Nhà tuyển dụng - Sinh viên. Tương tác với nhà tuyển dụng đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của trường Đại học và sinh viên. Ngày nay, danh sách các đối tác của trường bao gồm hơn 2.000 công ty thương mại, tổ chức khoa học và giáo dục từ nhiều lĩnh vực khác nhau, cũng như các cơ quan chính phủ [34].

The Economist

Chương trình Thạc sĩ Quản lý tại Đại học Quốc gia Saint Petersburg được xếp hạng là chương trình tốt nhất trong lĩnh vực quản lý theo tạp chí The Economist. Khoa Quản lý sau đại học của Đại học Tổng hợp St. Petersburg là đại diện duy nhất của Nga trong bảng xếp hạng năm 2017. Ra mắt lần đầu tiên tại chương trình Which MBA? danh sách các chương trình thạc sĩ quản lý hàng đầu, Theo tạp chí The Economist, chương trình Thạc sĩ Quản lý (MiM) tại GSOM SPbU đứng thứ 37 [35]. Năm 2019, chương trình Thạc sĩ Quản lý của Đại học St. Petersburg đã được đưa vào bảng xếp hạng của The Economist và trở thành đơn vị duy nhất của Nga tham gia Bảng xếp hạng Thạc sĩ Quản lý của ấn phẩm Anh [36].

Times Higher Education (THE)

Năm 2016, trong bảng xếp hạng các trường đại học có uy tín nhất thế giới, World Reputation Rankings, Đại học Quốc gia Saint Petersburg đã đạt vị trí thứ 81 - 90 [37]. Cũng trong năm 2016, trường được đưa vào danh sách các trường đại học tốt nhất thế giới có sinh viên tốt nghiệp được chuẩn bị tốt nhất cho công việc chuyên môn - Bảng xếp hạng Đại học về khả năng tuyển dụng toàn cầu [38].

Năm 2017, Đại học Quốc gia Saint Petersburg đã lọt vào bảng xếp hạng các ngành khoa học xã hội và nhân văn, cũng như kinh doanh và kinh tế [39] [40].

Năm 2018, Đại học Quốc gia Saint Petersburg xếp thứ 34 trong bảng xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học có tỷ lệ sinh viên trên giảng viên thấp nhất.

Năm 2021, Đại học Quốc gia Saint Petersburg vẫn giữ vững vị trí của mình trong bảng xếp hạng tổng và cũng cho thấy sự tăng trưởng ở ba nhóm chỉ số trong số năm nhóm [41]. Những thay đổi tích cực ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu, nguồn tài trợ từ ngành công nghiệp và mức độ quốc tế hóa của trường đại học. Nhà trường đạt kết quả cao nhất cho tiêu chí “Hoạt động giảng dạy” – 43,7 điểm. Theo nhóm chỉ số này, trường xếp hạng 164 trên thế giới và nằm trong top 10% các trường đại học [42].

Webometrics

Tính đến đầu năm 2017, Đại học Quốc gia Saint Petersburg xếp hạng 1242 trên thế giới trong bảng xếp hạng Webometrics về mức độ cởi mở của trường đại học. Đến mùa hè năm 2018, trường đã tăng hơn một nghìn bậc, lên vị trí thứ 198 trong Bảng xếp hạng quốc tế các trường đại học hàng đầu theo trích dẫn của Google Scholar [43].

Đại học Quốc gia Saint Petersburg đã cải thiện đáng kể vị trí của mình trong bảng xếp hạng Webometrics quốc tế dựa trên kết quả năm 2020. Trong sáu tháng, trường đã tăng 58 bậc trong danh sách [44], đã chứng minh được sự tăng trưởng đáng kể nhất trong tiêu chí “Kết nối”, tăng 207 bậc trong chỉ số này trong sáu tháng. Theo tiêu chí “Hiển thị”, mức tăng là 49 điểm [45].

RAEX

Học viện Gymnasium của Đại học Quốc gia Saint Petersburg được xếp hạng trong top 30 trường tốt nhất tại Nga theo xếp hạng RAEX [46].

Nature Index Rising Stars

Đại học Quốc gia Saint Petersburg là đại diện duy nhất của Nga trong bảng xếp hạng Rising Stars của Nature Index. Đại học được xếp hạng là một trong 100 tổ chức nghiên cứu năng động nhất thế giới [47].

The Center for World University Rankings (CWUR)

Trong bảng xếp hạng CWUR do Trung tâm xếp hạng đại học thế giới có trụ sở chính tại Ả Rập Xê Út biên soạn, trong tổng số hơn 27.000 trường đại học trên toàn thế giới, Đại học Quốc gia Saint Petersburg xếp thứ 81 thế giới về chất lượng giáo dục [48].

Hoạt động giáo dục

Theo Luật Liên bang Số 259-ФЗ ngày 10/11/2009, Đại học Quốc gia Moscow mang tên Lomonosov được trao quyền thực hiện các chương trình giáo dục đại học được xây dựng trên cơ sở các tiêu chuẩn giáo dục do trường tự thiết lập. Ngoài ra, theo luật này, Đại học Quốc gia Moscow được quyền cấp cho những người đã hoàn thành chương trình đào tạo tại các chương trình giáo dục do trường đại học thực hiện các văn bằng giáo dục có ký hiệu chính thức của Liên bang Nga, được chứng nhận bằng con dấu của Đại học Quốc gia Moscow, mẫu văn bằng này do chính trường chấp thuận. Các văn bản giáo dục do Đại học Quốc gia Moscow cấp theo luật định cung cấp cho người sở hữu các văn bản này những quyền tương tự như những quyền được cung cấp cho người sở hữu các văn bản giáo dục do các trường đại học công lập của Liên bang Nga cấp [49].

Từ năm 2011, Đại học Quốc gia Moscow đã triển khai chương trình đào tạo tích hợp kéo dài 6 năm. Các hình thức đào tạo chính tại Đại học Quốc gia Moscow là chuyên gia, thạc sĩcử nhân. Chương trình của MGU khác với các chương trình của các cơ sở giáo dục đại học khác của Nga, từ năm 2011 đã chuyển sang đào tạo theo các nguyên tắc của Công ước Bologna, trong đó bao gồm việc chia thành các chương trình cấp bằng cử nhân và thạc sĩ. Các trường đại học Nga đào tạo bằng cử nhân trong bốn năm và bằng thạc sĩ trong hai năm. Các chuyên gia đã đánh giá những quyết định này của Đại học Quốc gia Moscow một cách mơ hồ [50].

Là một phần của chương trình phát triển mới của Đại học Quốc gia Moscow (2020-2030), người ta có kế hoạch thành lập 7 trường khoa học và giáo dục để tập hợp các nhóm nhà khoa học từ các khoa khác nhau [51]:

  • Không gian;
  • Bảo tồn di sản văn hóa và lịch sử thế giới;
  • Hệ thống thần kinh, hệ thống nhận thức, trí tuệ nhân tạo;
  • Phương pháp toán học phân tích các hệ thống phức tạp;
  • Công nghệ phân tử của hệ thống sống và sinh học tổng hợp;
  • Công nghệ quang tử và lượng tử. Y học kỹ thuật số;
  • Tương lai của hành tinh: Giám sát môi trường toàn cầu.

Các trường khoa học bắt đầu đào tạo cán bộ và tiến hành nghiên cứu khoa học từ năm 2021.

Các khóa học liên khoa

Khóa đào tạo liên khoa của Đại học Quốc gia Moscow (Межфакультетский учебный курс МГУ - МФК МГУ) — khóa học kéo dài một học kỳ do các giáo viên của Đại học Moscow là chuyên gia trong lĩnh vực của họ giảng dạy. Mục đích của các khóa học là mô tả mối quan hệ giữa các lĩnh vực kiến ​​thức khác nhau: khoa học, nghệ thuật, chính trị, văn hóa, quá trình xã hội và công cộng. Các nhà khoa học hàng đầu trong và ngoài nước không phải là cán bộ của trường đại học được mời đến giảng bài. Việc thành thạo МФК là một phần không thể thiếu trong quá trình đào tạo sinh viên MGU và việc hoàn thành nó là bắt buộc [52]. Thông tin về các МФК mà sinh viên đã hoàn thành được đưa vào phần bổ sung bằng tốt nghiệp [53].

Cấu trúc

Khoa

Dưới đây là danh sách các khoa của Đại học Quốc gia Moscow hiện đang hoạt động, và lịch sử hình thành của các khoa đó

Giai đoạn Tên khoa (tiếng Nga) Tên khoa (dịch tiếng Việt) Năm thành lập
1755-1929 Философский факультет Khoa Triết học 1755
Юридический факультет Khoa Luật 1755
Медицинский факультет Khoa Y 1755
1929–1941 Химический факультет Khoa Hóa học 1929
Биологический факультет Khoa Sinh học 1930
Механико-математический факультет Khoa Cơ học và Toán học 1933
Физический факультет Khoa Vật lý 1933
Исторический факультет Khoa Lịch sử 1934
Геологический факультет Khoa Địa chất 1938
Географический факультет Khoa Địa lý 1938
Филологический факультет Khoa Ngữ văn 1941
Экономический факультет Khoa Kinh tế 1941
1952–1973 Факультет журналистики Khoa Báo chí 1952
Институт стран Азии и Африки (ИСАА) Viện các nước châu Á và châu Phi (ISAA) 1956
Факультет психологии Khoa Tâm lý học 1966
Факультет вычислительной математики и кибернетики (ВМК) Khoa Toán tin và Điều khiển học (VMK) 1970
Факультет почвоведения Khoa Thổ nhưỡng học 1973
1988–1995 Факультет иностранных языков и регионоведения (ФИЯР) Khoa Ngoại ngữ và Nghiên cứu Khu vực 1988
Социологический факультет Khoa Xã hội học 1989
Факультет наук о материалах (ФНМ) Khoa Khoa học Vật liệu 1991
Факультет фундаментальной медицины (ФФМ) Khoa Y học Cơ bản 1992
Факультет государственного управления (ФГУ) Khoa Quản lý Nhà nước 1993
Факультет военного обучения Khoa Đào tạo Quân sự 1995
Sau 1997 Факультет педагогического образования (ФПО) Khoa Sư phạm 1997
Факультет искусств Khoa Nghệ thuật 2001
Факультет биоинженерии и биоинформатики (ФББ) Khoa Công nghệ Sinh học và Tin sinh học 2002
Факультет мировой политики (ФМП) Khoa Chính trị Thế giới 2003
Факультет глобальных процессов (ФГП) Khoa Các quá trình toàn cầu 2005
Факультет политологии Khoa Khoa học Chính trị 2008
Факультет фундаментальной физико-химической инженерии (ФФФХИ) Khoa Kỹ thuật Vật lý-Hóa học Cơ bản 2011
Биотехнологический факультет Khoa Công nghệ Sinh học 2013
Факультет космических исследований МГУ (ФКИ) Khoa Nghiên cứu Vũ trụ MGU 2017

Trường đại học

Các trường đại học thành viên có chức năng và quyền hạn ngang với các khoa của Đại học Quốc gia Moscow mang tên Lomonosov.

  • Trường đại học Kinh doanh, ВШБ МГУ. Đào tạo sinh viên bậc cử nhân, thạc sĩ, MBA và MBA điều hành trong lĩnh vực Quản lý. Thành lập năm 2001.
  • Trường đại học Kinh tế Moscow, МШЭ МГУ. Đào tạo cử nhân ngành Kinh tế, thạc sĩ các chuyên ngành “Lý thuyết kinh tế và các vấn đề của nước Nga hiện đại” và “Chiến lược kinh tế và tài chính”. Thành lập năm 2004.
  • Trường đại học Quản trị Nhà nước, ВШГА МГУ. Đào tạo cán bộ chuyên môn cho lĩnh vực hành chính nhà nước. Thành lập năm 2005.
  • Trường đại học Biên dịch, ВШП МГУ. Đào tạo chuyên gia biên dịch chuyên nghiệp, thành thạo công nghệ biên dịch hiện đại.
  • Trường đại học Kiểm toán Nhà nước, ВШГА МГУ. Đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực tài chính công, kiểm soát tài chính ở cấp liên bang, khu vực và địa phương, cũng như kiểm toán nội bộ và tổ chức kiểm toán.
  • Trường đại học Truyền hình, ВШТ МГУ. Đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực truyền hình và báo chí: phóng viên, người dẫn chương trình, nhà sản xuất, đạo diễn, biên kịch, biên tập viên, phóng viên ảnh, nhà phê bình truyền hình. Thành lập năm 2006.
  • Trường đại học Khoa học Xã hội Đương đại, ВШССН МГУ. Đào tạo chuyên gia trong các lĩnh vực xã hội học, kinh tế tri thức, quản lý và kiểm soát xã hội, triết học xã hội và văn hóa học. Thành lập năm 2006.
  • Trường đại học Quản trị và Đổi mới. Đào tạo kỹ sư thiết kế, chuyên gia công nghệ, tổ chức sản xuất, quản lý dự án khoa học-công nghệ cao. Thành lập năm 2006.
  • Trường đại học Kinh doanh Đổi mới. Đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ thăm dò, khai thác và chế biến tài nguyên hydrocacbon, quản lý tài nguyên thiên nhiên. Thành lập năm 2006.
  • Trường đại học Chính sách Văn hóa và Quản lý trong lĩnh vực Nhân văn, ВШКПиУГС МГУ. Đào tạo chuyên gia quản lý, sản xuất và lãnh đạo trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật và thể thao. Thành lập năm 2011.

Trung tâm

  • Khoa dự bị MGU được thành lập vào năm 1969 nhằm nâng cao trình độ giáo dục chung cho những thanh niên cần được bảo trợ và hỗ trợ của nhà nước trước khi học đại học.
  • Trung tâm khoa học và giáo dục chuyên môn MGU, СУНЦ МГУ được thành lập năm 1988 trên cơ sở trường nội trú Kolmogorov [54] [55], đào tạo lớp 10 và lớp 11.
  • Trường chuyên nội trú УГ МГУ là trường nội trú, một đơn vị trực thuộc Đại học Quốc gia Moscow, được thành lập vào ngày 1 tháng 9 năm 2016. Chương trình đào tạo tại trường được chia thành 5 hướng chuyên: toán học, kỹ thuật, khoa học tự nhiên, nhân văn và kinh tế xã hội.
  • Trường Sau đại học Pháp, Французский университетский колледж là một cơ sở giáo dục đại học nhà nước được thành lập năm 1991 tại Đại học Quốc gia Moscow [56]. Khóa học kéo dài hai năm tại trường cao đẳng cung cấp cơ hội để lấy bằng kép, được công nhận tại Pháp, tương đương với việc hoàn thành một năm bằng thạc sĩ [57] trong một trong các ngành nhân văn sau: luật, lịch sử, xã hội học, văn học và triết học [58]. Năm 2016, Đại học Pháp tại Moscow đã kỷ niệm 25 năm thành lập [59].

Viện nghiên cứu

  • Viện Nghiên cứu Khoa học Vật lý Hạt nhân mang tên Skobeltsyn
  • Viện Cơ học
  • Viện Thiên văn Nhà nước mang tên Shternberg
  • Viện Nghiên cứu Khoa học Sinh học Lý-Hóa mang tên Belozersky
  • Trung tâm Máy tính Nghiên cứu Khoa học
  • Viện Các vấn đề lý thuyết của thế giới vi mô mang tên Bogolyubov
  • Viện Nghiên cứu Toán học các Hệ thống phức tạp
  • Viện Nghiên cứu và Bảo tàng Nhân học mang tên Anuchin
  • Viện Sinh thái học Thổ nhưỡng
  • Viện Văn hóa Thế giới
  • Viện Khoa học và Văn hóa Nga-Đức
  • Viện Các vấn đề về An ninh Thông tin
  • Viện Vật lý Lý thuyết và Toán học
  • Viện Bồi dưỡng và Tái đào tạo Giảng viên Khoa học Xã hội và Nhân văn

Chi nhánh

Đại học Quốc gia Moscow mang tên Lomonosov có nhiều chi nhánh tại các nước SNG. Ngoài ra, kể từ năm 2015, một trường đại học liên kết Университет МГУ-ППИ đã hoạt động tại Thâm Quyến, Trung Quốc, được thành lập trên cơ sở MGU của Nga và PPI của Trung Quốc (đây không phải là một chi nhánh chính thức).

Năm 2024, cơ sở duy nhất của trường đại học này tại Slovenia, đặt tại thành phố Koper, được mở vào năm 2017, đã bị đóng cửa. Như hiệu trưởng trường đại học Sadovnichy đã tuyên bố, chi nhánh đã bị đóng cửa theo chỉ đạo ​​của chính phủ Slovenia [60] [61].

  • Chi nhánh tại Sevastopol, được thành lập năm 1999 .
  • Chi nhánh tại Astana ( Kazakhstan ), được thành lập năm 2000 .
  • Chi nhánh tại Tashkent ( Uzbekistan ), được thành lập năm 2006 .
  • Chi nhánh tại Baku ( Azerbaijan ), được thành lập năm 2008 .
  • Chi nhánh tại Dushanbe ( Tajikistan ), được thành lập năm 2009 .
  • Chi nhánh tại Yerevan ( Armenia ), được thành lập vào năm 2015 .
  • Chi nhánh tại Sarov, thành lập năm 2021 .
  • Chi nhánh tại Grozny, được thành lập vào năm 2023.

Trường khoa học và giáo dục liên ngành

Năm 2020, 7 trường khoa học và giáo dục thường trực, НОШ МГУ đã được thành lập tại Đại học Tổng hợp Lomonosov Moscow như một phần của chương trình phát triển đại học [62] [63].

Nguyên tắc chính của việc thành lập các trường này là tổ chức công tác khoa học ở cấp độ liên ngành, tại giao điểm của các ngành khoa học khác nhau. Các trường có hai nhiệm vụ chính: nghiên cứu khoa học từ cơ bản đến hiện đại và đào tạo cán bộ.

Các hoạt động khoa học và giáo dục của các trường khoa học và giáo dục của trường đại học dựa trên hai đòn bẩy chính: tính cơ bản và tính liên ngành.

  • Trường Nghiên cứu cơ bản và ứng dụng về không gian đào tạo chuyên gia và thực hiện nghiên cứu về: vật chất tối, lý thuyết hấp dẫn, an toàn không gian gần Trái Đất, khám phá và khai phá không gian (như Mặt Trăng).
  • Trường Bảo tồn di sản văn hóa – lịch sử thế giới bảo tồn các giá trị nhân văn trong bối cảnh vai trò ngày càng tăng của trí tuệ nhân tạo.
  • Trường Hệ thống thần kinh, hệ thống nhận thức và trí tuệ nhân tạo tập trung vào các nghiên cứu nền tảng về hoạt động của bộ não, hệ thống nhận thức và phát triển trí tuệ nhân tạo. Đồng thời thu hút nhân tài trẻ và đào tạo chuyên gia cao cấp trong lĩnh vực AI.
  • Trường Công nghệ phân tử của hệ sinh học và sinh học tổng hợp thực hiện nghiên cứu về công nghệ phân tử và ứng dụng vào thực tiễn.
  • Trường Các phương pháp toán học trong phân tích hệ thống phức tạp nghiên cứu các hệ thống phức tạp trong xã hội – tự nhiên thời kỳ chuyển đổi số và phát triển hệ thống ngữ nghĩa cho các ngành khoa học cơ bản.
  • Trường Công nghệ lượng tử, quang học và y học số nghiên cứu liên ngành về cảm biến lượng tử, truyền thông lượng tử, y học số, vật lý y học bức xạ và quang học sinh học.
  • Trường Tương lai của Trái Đất và biến đổi môi trường toàn cầu hướng đến các vấn đề toàn cầu: biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm, khan hiếm nước, cạn kiệt tài nguyên.

Khuôn viên

Tòa nhà chính

Tòa nhà chính của Đại học Quốc gia Moscow, Главное здание МГУ - ГЗ МГУ, trong các tài liệu chính thức đôi khi được gọi là Главным корпусом МГУ, là tòa nhà trung tâm của khu phức hợp trường đại học thuộc trên Đồi Chim sẻ (Воробьёвых горах). Tòa nhà chọc trời cao nhất trong Bảy tòa nhà được xây dựng theo phong cách Stalin (Сталинских высоток). Chiều cao: 183,2 mét (nếu tỉnh cả đỉnh tháp là 235 mét [64]), số tầng ở tòa nhà trung tâm: 32 tầng [65] [66]. Chiều cao của chân đế so với mực nước biển là 194m [67]. Được xây dựng vào năm 1949-1953 theo thiết kế của các kiến ​​trúc sư Boris Iofan, Lev Rudnev, Sergei Chernyshev, Pavel Abrasimov, Alexander Khryakov và kỹ sư Vsevolod Nasonov. Xưởng của Vera Mukhina phụ trách trang trí điêu khắc cho mặt tiền. Cho đến những năm 1990, tòa nhà này là tòa nhà cao nhất châu Âu [68] [69].

Phần trung tâm (khu «А») có 36 tầng. Văn phòng hiệu trưởng và các dịch vụ và tổ chức chung của trường đại học, hội đồng thanh niên, các khoa cơ học và toán học , địa lý và địa chất, bảo tàng khoa học trái đất, các phòng thí nghiệm và giảng đường chung của trường đại học, thư viện và các cơ sở phục vụ ăn uống đều tọa lạc tại đây.

Từ phần trung tâm, các tòa nhà ký túc xá 18 tầng (khu «Б» và «В») với các tòa tháp cao tới tầng 24 kéo dài. Từ các khu vực này, lần lượt phân ra các khu vực 9 tầng «Г», «Д», «Е» и «Ж», cũng là nơi có nhà trọ và khách sạn. Các tòa tháp liền kề với tòa nhà chính («И», «К», «Л», «М») là nơi có các căn hộ dành cho giáo sư và giáo viên.

Cựu sinh viên nổi tiếng

Trong số những sinh viên tốt nghiệp của trường có những người đoạt giải Nobel , giải thưởng Fields và các chính trị gia lớn, bao gồm cả các nhà lãnh đạo quốc gia.

Những người đoạt giải Nobel Vật lý

  • Igor Evgenievich Tamm
  • Ilya Mikhailovich Frank
  • Vitaly Lazarevich Ginzburg
  • Alexey Alexeevich Abrikosov

Những người đoạt giải Nobel Hóa học

  • Nikolai Nikolaevich Semenov

Những người đoạt giải Nobel Hòa bình

  • Andrei Dmitrievich Sakharov
  • Mikhail Sergeevich Gorbachev

Những người đoạt Huy chương Fields

  • Sergei Petrovich Novikov
  • Grigory Aleksandrovich Margulis
  • Vladimir Gershonovich Drinfeld
  • Maxim Lvovich Kontsevich
  • Vladimir Aleksandrovich Voevodsky
  • Andrey Yuryevich Okounkov

Cựu sinh viên Việt Nam nổi bật

  • Giáo sư Hoàng Tụy tốt nghiệp năm 1959, là một trong hai người tiên phong trong việc xây dựng ngành Toán học của Việt Nam (cùng với Giáo sư Lê Văn Thiêm). Giáo sư Hoàng Tụy được coi là cha đẻ của lĩnh vực Tối ưu hóa toàn cục trong Toán học ứng dụng.
  • Giáo sư Phan Lương Cầm tốt nghiệp năm 1974, phu nhân cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nữ giáo sư - tiến sĩ đầu tiên của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Bà là một trong những người sáng lập và Chủ tịch đầu tiên của Hội Khoa học - Kỹ thuật Ăn mòn và Bảo vệ Kim loại Việt Nam.
  • Nhà báo Nguyễn Đăng Phát tốt nghiệp năm 1977, một trong bốn sinh viên Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp ngành báo chí tại MGU, Tổng thư ký Hội hữu nghị Việt-Nga, Nguyên Tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam.
  • Giáo sư Nguyễn Đình Đức tốt nghiệp năm 1990, Phó Chủ tịch Hội Cơ học Việt Nam, Nguyên Chủ tịch Hội đồng trường đầu tiên của Trường Đại học Công nghệ, ĐHQGHN.

Giải thưởng và chứng nhận mà Đại học Quốc gia Moscow cấp

Giải thưởng cao nhất của Đại học Moscow, Giải thưởng Lomonosov, được thành lập theo Nghị quyết của Hội đồng Dân ủy Liên Xô vào ngày 29 tháng 5 năm 1944; những người đoạt giải đầu tiên đã được trao giải thưởng vào cùng năm đó [70]. Từ năm 1993, Giải thưởng Lomonosov cũng được trao cho các hoạt động giảng dạy.

Giải thưởng Shuvalov là giải thưởng được trao cho các giáo sư, giảng viên và cán bộ nghiên cứu của Đại học Quốc gia Moscow vì công trình khoa học, được thành lập năm 1993 như một phần của chương trình hỗ trợ thanh thiếu niên tài năng.

Từ năm 1998 [71], 4 loại danh hiệu danh dự đã được đưa vào hệ thống khuyến khích và giải thưởng tại Đại học Tổng hợp Moscow: Giáo sư danh dự, Nghiên cứu viên danh dự, Giáo viên danh dựNhân viên danh dự [72].

Học bổng MGU được trao hàng năm cho giáo viên và cán bộ nghiên cứu của MGU dưới 33 tuổi, có bằng cấp học thuật và đạt được thành tích đáng kể trong lĩnh vực giảng dạy và hoạt động nghiên cứu. Những kết quả này cần được phản ánh trong sách giáo khoa, phương tiện giảng dạy, các phát triển về phương pháp giảng dạy, cũng như trong các ấn phẩm trên các tạp chí và ấn phẩm khoa học hàng đầu được bình duyệt .

Hiệu trưởng

Giai đoạn 1755–1803

  • 1755–1757 — Alexey Mikhailovich Argamakov
  • 1757–1763 — Ivan Ivanovich Melissino
  • 1763–1770 — Mikhail Matveevich Kheraskov
  • 1770–1771 — Anton Antonovich Teil's (quyền giám đốc)
  • 1771–1784 — Mikhail Vasilievich Priklonsky
  • 1784–1796 — Pavel Ivanovich Fonvizin
  • 1796–1803 — Ivan Petrovich Turgenev

Giai đoạn 1803-1917

  • 1803–1805 — Khariton Andreevich Chebotaryov
  • 1805–1807 — Pyotr Ivanovich Strakhov
  • 1807–1808 — Fyodor Grigoryevich Bauze
  • 1808–1819 — Ivan Andreevich Geim
  • 1819–1826 — Anton Antonovich Prokopovich-Antonsky
  • 1826–1833 — Ivan Alekseevich Dvigubsky
  • 1833–1836 — Alexey Vasilievich Boldyrev
  • 1837–1842 — Mikhail Trofimovich Kachenovsky
  • 1842–1848 — Arkady Alekseevich Alfonsky
  • 1848–1850 — Dmitry Matveevich Perevoshchikov
  • 1850–1863 — Arkady Alekseevich Alfonsky (lần 2)
  • 1863–1870 — Sergey Ivanovich Barshev
  • 1871–1877 — Sergey Mikhailovich Solovyov
  • 1877–1883 — Nikolai Savvich Tikhonravov
  • 1883–1887 — Nikolai Pavlovich Bogolepov
  • 1887–1891 — Gavriil Afanasyevich Ivanov
  • 1891–1893 — Nikolai Pavlovich Bogolepov (lần 2)
  • 1893–1898 — Pavel Alekseevich Nekrasov
  • 1898-1898 — Nikolai Andreevich Zverev
  • 1898–1899 — Dmitry Nikolaevich Zernov
  • 1899–1904 — Alexander Andreevich Tikhomirov
  • 1904–1905 — Leonid Kuzmich Lakhtin
  • 1905-1905 — Sergey Nikolaevich Trubetskoy
  • 1905–1911 — Alexander Apollonovich Manuilov
  • 1911–1917 — Matvey Kuzmich Lyubavsky

Giai đoạn 1917-1919

  • 1917–1919 — Mikhail Aleksandrovich Menzbir
  • 1919-1919 — Vladimir Sergeevich Gulevich
  • 1919–1920 — Mikhail Mikhailovich Novikov

Giai đoạn 1920-1921

  • 1920–1921 — Dmitry Petrovich Bogolepov
  • 1921-1921 — Vyacheslav Petrovich Volgin

Giai đoạn 1921-1929

  • 1921–1925 — Vyacheslav Petrovich Volgin
  • 1925–1928 — Andrey Yanuarievich Vyshinsky
  • 1928–1929 — Ivan Dmitrievich Udaltsov (quyền hiệu trưởng)

Giai đoạn 1929-1939

  • 1929–1930 — Ivan Dmitrievich Udaltsov
  • 1930–1934 — Vasily Nikolaevich Kasatkin
  • 1934-1934 — Matvey Georgievich Kadek (quyền giám đốc)
  • 1934–1939 — Alexey Sergeevich Butyagin

Giai đoạn 1939-nay

  • 1939–1941 — Alexey Sergeevich Butyagin
  • 1941–1942 — Boris Pavlovich Orlov (quyền hiệu trưởng – khu vực Moscow)
  • 1941–1942 — Mikhail Mikhailovich Filatov (quyền hiệu trưởng – khu vực Ashkhabad)
  • 1943-1943 — Ilya Savvich Galkin (quyền hiệu trưởng – khu vực Ashkhabad và Sverdlovsk)
  • 1943-1943 — Alexey Sergeevich Butyagin
  • 1943–1947 — Ilya Savvich Galkin
  • 1948–1951 — Alexander Nikolaevich Nesmeyanov
  • 1951–1973 — Ivan Georgievich Petrovsky
  • 1973–1977 — Rem Viktorovich Khokhlov
  • 1977–1992 — Anatoly Alekseevich Logunov
  • 1992-nay — Viktor Antonovich Sadovnichy

Tham khảo

  1. Санкт‑Петербургскому университету присужден орден Дружбы Вьетнама
  2. Вузы России 2021: список, проходные баллы, бюджетные места и многое другое
  3. Здание 12 коллегий
  4. Академический Университет // Санкт-Петербург. Петроград. Ленинград: Энциклопедический справочник / Ред. коллегия: Белова Л. Н., Булдаков Г. Н., Дегтярёв А. Я. и др. — М.: Большая российская энциклопедия, 1992.
  5. Марголис Ю. Д., Тишкин Г. А. Отечеству на пользу, а россиянам во славу: из истории Университетского образования в Петербурге в XVIII — нач. XIX в. — Л., 1988
  6. Указ Императора Петра I Объ учрежденіи Академіи...
  7. Академический Университет
  8. ПОСТАНОВЛЕНИЕ ПРАВИТЕЛЬСТВА РФ ОТ 01.11.97 № 1379 О САНКТ-ПЕТЕРБУРГСКОМ ГОСУДАРСТВЕННОМ Университет
  9. Основание Санкт-Петербургского Университета - Санкт-Петербургский государственный Университет
  10. 300 лет СПбГУ
  11. Сборник правил и подробнейших программ для поступления во все учебные заведения в 1871—1872 г.
  12. Толстой Д. А. Академический Университет в XVIII столетии. — СПб., 1885
  13. Тихомиров М. Н. М. В. ЛОМОНОСОВ И ОСНОВАНИЕ ПЕРВОГО УниверситетА В РОССИИ. Доклад на юбилейной научной сессии, посвящённой 200-летию Московского Университета, 9-13 мая 1955 г.
  14. Сборник постановлений по Министерству народного просвещения. Т. 1. Царствование императора Александра I. 1802—1825. Изд. 2-е. — СПб., 1873. — Стб. 1265—1272.
  15. Сборник постановлений по Министерству народного просвещения. Т. 1. Царствование императора Александра I. 1802—1825. Изд. 2-е. — СПб., 1873. — Стб. 1737—1743.
  16. Сборник постановлений по Министерству народного просвещения. Т. 1. Царствование императора Александра I. 1802—1825. Изд. 2-е. — СПб., 1873. — Стб. 1602.
  17. Устав СПбГУ
  18. Журнал «Санкт-Петербургский Университет» № 16 (3449) / 1 сентября 1997 года
  19. Президент подписал закон о статусе Санкт-Петербургского и Московского государственных Университетов
  20. Текст законопроекта о статусе МГУ и СПбГУ. Видеозапись второго чтения
  21. МГУ и СПбГУ получили особый статус
  22. Образовательные стандарты - Санкт-Петербургский государственный Университет
  23. Переезд СПбГУ в единый кампус в Пушкине будет постепенным, исторические здания сохранятся за Университетом — руководство вуза - Санкт-Петербургский государственный Университет
  24. Санкт-Петербургскому государственному Университету 300 лет
  25. Ракету «Союз» с юбилейной символикой СПбГУ запустили в космос
  26. Логотип СПбГУ сегодня отправили в космос
  27. https://www.gov.spb.ru/press/governor/281139/
  28. Academic Ranking of World Universities in Mathematics - 2012 | 2012 Top 100 Universities in Mathematics | ARWU-SUBJECT 2012
  29. Academic Ranking of World Universities 2020
  30. Business school rankings from the Financial Times
  31. СПбГУ вновь улучшил позиции в рейтинге ведущих вузов мира по версии QS
  32. QS World University Rankings 2019
  33. Subject Rankings 2021
  34. QS Graduate Employability Rankings: СПбГУ входит в топ-100 вузов по успешности выпускников
  35. Masters in Management 2017 Ranking
  36. Программа СПбГУ Master in Management вошла в рейтинг издания The Economist
  37. СПбГУ — снова в топ–100 университетов мира с наилучшей академической репутацией
  38. СПбГУ вновь вошёл в список лучших университетов мира, выпускники которых наиболее готовы к профессиональной деятельности - Санкт-Петербургский государственный университет
  39. World University Rankings 2018 by subject: business and economics
  40. World University Rankings 2018 by subject: social sciences
  41. World University Rankings
  42. СПбГУ сохранил свои позиции в рейтинге Times Higher Education
  43. TRANSPARENT RANKING: Top Universities by Google Scholar Citations
  44. World | Ranking Web of Universities: Webometrics ranks 30000 institutions
  45. СПбГУ улучшил позиции в международном рейтинге Webometrics
  46. Рейтинг школ 2018
  47. СПбГУ — среди 100 самых активно развивающихся научно-исследовательских организаций мира, по версии Nature
  48. CWUR 2018-2019
  49. Федеральный закон от 10.11.2009 г. № 259-ФЗ. Сайт Президента России (10 ноября 2009)
  50. В МГУ будут обучать студентов в течение шести лет
  51. В МГУ появятся семь научных школ. ТАСС (7 октября 2020)
  52. Для студентов очной формы обучения третьих и четвёртых курсов, обучающихся по программам специалитета, третьего курса бакалавриата и первого курса магистратуры.
  53. Межфакультетские учебные курсы Московского государственного университета имени М. В. Ломоносова
  54. Учреждение носило название «Специализированная школа-интернат № 18 физико-математического профиля при Московском государственном университете им. М. В. Ломоносова» или ФМШ-18 (1963—1988).
  55. Постановление Совета Министров СССР № 1241 от 21.10.1988
  56. Французский колледж при МГУ: наука и культура вопреки политике
  57. Французский университетский колледж отметил юбилей
  58. Французский университетский колледж МГУ
  59. Французский университетский колледж отметил 25-й юбилей
  60. В Словении закрыли единственный европейский филиал МГУ
  61. Ректор МГУ сообщил о закрытии филиала вуза в Словении
  62. В МГУ появятся семь научных школ
  63. В МГУ появятся 7 новых научно-образовательных школ
  64. Янковский Р. М. Высотка номер один: история и архитектура Главного здания МГУ. — М.: Бомбора, 2021. — 184 с. — 1500 экз. — ISBN 978-5-04-116390-7, с. 109.
  65. Сталинские высотные здания
  66. Николай Кружков Из истории московских небоскребов. Все московские высотки были заложены в один день. Главному зданию МГУ – 50 лет
  67. Главное здание Московского университета. Географический факультет МГУ имени М. В. Ломоносова
  68. Сталинские высотки — Главное здание Московского государственного университета
  69. Филипп Алексенко, Анна Ким. Как строились сталинские высотки
  70. Премия имени М. В. Ломоносова
  71. Решение Учёного Совета МГУ от 7 декабря 1997 года.
  72. Положение о присвоении почётных званий МГУ